Ủng dạ – đó là những đôi giày mùa đông rẻ nhất, ấm nhất của nước Nga.

Lịch sử của ủng dạ bắt đầu cách đây vài nghìn năm. Từ thế kỷ IV (trước Công nguyên), tổ tiên người châu Á ở Nga đã dùng ủng dạ. Các nhà khảo cổ đã tìm thấy những hiện vật tại vùng Altai. Ở nước Nga cổ, chỉ những người nông dân khá giả mới đi ủng dạ vì nó khá đắt. Những gia đình có chúng trong nhà được coi là những gia đình giàu có. Chúng được giữ gìn và truyền cho thế hệ sau. Có được món quà là đôi ủng dạ được coi là một điềm may mắn. Những người thợ thủ công làm ủng dạ không nhiều, còn kỹ thuật sản xuất được giữ bí mật, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Chàng trai có đôi ủng dạ được coi là một chú rể đáng mơ ước đối với các cô gái.

GIAY-DA-NGA

giày da nga – du lịch nga mùa thu

Cả những người trong hoàng gia cũng không hề coi thường những đôi ủng dạ. Petr I đã coi nó như một biện pháp trong chữa bệnh nôn nao khó chịu. Vào mùa đông sau khi tắm ở những lỗ đục trên mặt băng, ông yêu cầu những chiếc khăn và đôi ủng dạ ấm. Chính vào thời gian này việc cai quản sản xuất ủng dạ tại Nga được phổ biến rộng rãi. Ekaterina Velikaya đã đi đôi ủng dạ dưới chiếc váy xòe khi chân bà bị đau. Người ta đã tạo ra cho bà một loại lanh mềm đặc biệt từ len dày màu đen. Còn nữ hoàng Nga Anna Ioanovna đã cho phép các quý bà đi ủng dạ với những bộ lễ phục.

GIAY-DA-NGA-1c

Ủng dạ đóng vai trò rất quan trọng trong thời kỳ chiến tranh. Mùa đông, các chiến sĩ chỉ có thể đi ủng dạ. Quân Nga đã chiến thắng quân của Napoleon và Hitler nhờ một số lượng lớn những đôi giày ấm áp này.

Nhiều nhà chính trị trong thời kỳ hiện đại rất tôn trọng nghề thủ công này. Stalin đã được cứu sống nhờ đôi ủng dạ trong cuộc đi đày ở Sibiri, Nikita Khrushchev cũng đã trải qua thời thơ ấu với đôi ủng dạ. Những người sản xuất ủng dạ thường nhận được các đơn đặt hàng cá nhân của những vị lãnh đạo cấp cao. Và tên tuổi của những người đặt hàng được giữ bí mật.
Không có ủng dạ không thể chinh phục được những vùng phía bắc, những chuyến thám hiểm ở cực Bắc và cực Nam. Hiện nay đã xuất hiện trong lịch sử những hiện vật là những đôi ủng dạ của các vận động viên tham gia vào Thế vận hội mùa đông ở Salt lake City, những đôi ủng dạ trắng của thợ hồ vải vùng Syzran làm quà tặng Stalin sinh nhật lần thứ 70 hay đôi ủng dạ của Georgy Zhukov trong thời gian Chiến tranh vệ quốc vĩ đại.

Những đôi ủng dạ tốt nhất là những đôi giày được người thợ thủ công ở làng quê làm. Nghề thủ công này tại các làng ở Sibiri và miền Trung nước Nga hiện nay đang được khôi phục. Trước đây tất cả các vùng đều làm ủng dạ. Công việc này có lãi mặc dù độc hại và rất vất vả. Cùng với thời gian các xưởng thủ công sản xuất ngày càng phát triển. Hiện nay ở Nga có một vài nhà máy sản xuất ủng dạ. Trong đó nhà máy Gorizont đã có lịch sử từ năm 1854. Chính nhà máy này vào năm 2001 đã nghĩ ra một trong những bảo tàng độc đáo nhất – Bảo tàng ủng dạ Nga (Matxcơva).

GIAY-DA-NGA-1b

giày da nga – du lịch moscow nga

Trong vòng 300 năm trở lại đây, nghề thủ công này đã có những thay đổi lớn. Sản xuất ủng dạ ngày nay cũng như trước kia là một quá trình rất phức tạp. Để sản xuất ra một đôi ủng dạ không phải cỡ lớn nhất đã cần gần 1kg lông, có nghĩa là phải cắt lông 1 con cừu lớn. Như vậy, khi chúng ta đi một đôi ủng dạ, chúng ta đã mang ở chân lông 2 chú cừu non.
Ủng dạ bắt đầu được làm bằng lông. Nó được phân loại, giặt và phơi khô. Một chiếc máy sẽ nghiền nhỏ và biến nó thành bông. Loại lông tốt là loại có thể bay chỉ với làn gió nhẹ thổi qua.

Lông được trải ra và kéo thành sợi. Từ đó người ta làm ra những đôi ủng dạ. Nhưng để bông trở thành tấm vải may ủng dạ, sợi lông phải trải qua một quá trình, đó là một chiếc máy nén sẽ đập kỹ chỗ lông thành tấm dạ. Công đoạn tiếp theo, bằng một cái khuôn chuyên dụng người ta cắt những chiếc ủng dạ theo những kích cỡ cần thiết. Cần phải đặc biệt chú ý tới việc nối với đế giày. Đế giày không chỉ được làm bằng một lớp nỉ mà còn được lót một lớp lông dày.

GIAY-DA-NGA-1a

giày da nga- du lịch nước nga

Người ta sẽ bọc những phần đã làm vào một tấm vải ẩm và lăn nó thật kỹ: lông sẽ được nén chặt xuống. Công việc này rất vất vả, đòi hỏi nhiều sức lực vì tất cả đều được làm bằng tay. Việc lăn được thực hiện dọc theo chiếc ủng, khi đó sẽ tạo nên độ rộng của chiếc ủng. Và chiếc ủng dạ đã được ra đời.

Hình dáng thông thường của chiếc ủng chỉ có được nhờ việc lăn nó: 40 – 50 chiếc ủng mới sẽ được bọc trong một tấm vải không thấm nước và đưa qua một chiếc máy cán. Nó được làm như vậy 3 lần. Chiếc ủng sẽ không còn một vết nối nào. Sau công đoạn này, chiếc ủng dạ đã được làm xong, nhưng chỉ có cỡ lớn – cao 1m và dài 0,5m. Sau hai lần giặt (trong nước lạnh, sau đó là nước nóng) và một chiếc giày chuẩn cỡ 42 đã hoàn thành.

Tổ hợp máy làm từ gỗ cây tùng (loại gỗ khác sẽ không giữ được nhiệt và tốc độ) giống như người máy, sẽ giặt thành phẩm 3 lần. Sau đó khi nó đã khô, một lần nữa chiếc ủng được lăn và đập lại lần nữa. Chiếc giày được để trong hơi nóng để nó mềm ra và có thể trang trí màu sắc cần thiết. Máy Krokodil tạo cho chiếc ủng dáng và kích cỡ cần thiết: bằng chiếc khuôn gỗ, giày được kéo căng theo chiều ngang. Để chiếc ủng vào khuôn, nắn hình bằng chiếc búa để vuốt phằng chiếc ủng. Như một viên kim cương chiếc ủng được gọt rũa lần cuối.

Công đoạn cuối cùng là phơi khô. Đặt ủng vào một cái lò chuyên dụng từ 12 – 14 tiếng. Để biết được chiếc ủng đã khô hay chưa không khó: khuôn sẽ bỏ ra được dễ dàng nếu ủng đã đạt yêu cầu. Tất cả công đoạn này mất ba ngày rưỡi.
Ủng dạ là loại giày duy nhất được làm từ những chất liệu tự nhiên mà không gây hại tới môi trường.